Tưởng nhớ cội nguồn - Kết nối dòng họ

Phả ký đời thứ 8

  • Click vào dấu để xem sơ đồ gia phả
  • Click vào dấu để xem thông tin chi tiết
  • Trần Ngọc Nhưng

    Mã định danh: VIII.1.1.1
    Đời thứ: VIII
    Giới tính: Nam.

    Còn gọi là cụ Tú Nhưng, cụ Bà: Mai Thị Thâm, hai Cụ sinh ra: 9 trai, 2 gái

    1. Trần Thị Đỏ                            (Ngô Văn Ruật- xóm 14- Hải Phúc- Hải Hậu)
    2. Trần Ngọc Liêu                       (Vũ Thị Hồng- Nghĩa Trung- Nghĩa Hưng- Nam Định)
    3. Trần Ngọc Phan                      (Nguyễn Thị Quýt- Cồn Vành- Hải Hậu)
    4. Trần Ngọc Lữu                       (Cao Thị Vôn- Quất Lâm- Giao Thủy)
    5. Trần Ngọc Quyến                   (Nguyễn Thị Khuyên- Hải Phúc)
    6. Trần Ngọc Điến                     (Lâm Thị Phượng- Hải Lộc)
    7. Trần Ngọc Đãng                     (bà cả: Lê Thị Vân, bà hai: Mai Thị Chắt, bà ba: Phạm Thị Tuất)
    8. Trần Thị Nhung                      (Mai Văn Huỳnh- Lạc Nam- Xuân Trường)
    9. Trần Ngọc Quang                   (Bùi Thị Quýt- Hải Phúc)
    10. Trần Ngọc Riệm                     (Đặng Thị Huê- Hải Vân- Hải Hậu)
    11.  Trần Ngọc Ngọ                     (con nuôi)

    Tiểu sử:

    Trong dòng chảy lịch sử của vùng quê ven biển Nam Định cuối thế kỷ XIX, giữa những mùa đói kém, những năm tháng chiến tranh và biến động xã hội, có một gia đình họ Trần vẫn bền bỉ gìn giữ nề nếp học hành, đạo nghĩa và lòng nhân hậu qua nhiều thế hệ. Người đời sau vẫn quen gọi ông là cụ Tú Nhưng – một nhà nho chân chất nhưng mang khí cốt của người quân tử Bắc Hà, còn bà là cụ Mai Thị Thâm – người phụ nữ tảo tần đã lặng lẽ dựng nên nền móng cho cả một đại gia đình hiển đạt.

    Cụ Tú Nhưng tên thật là Trần Ngọc Nhưng, sinh trưởng trong gia cảnh nghèo khó nhưng giàu truyền thống hiếu học. Cha ông là cụ Nhì Văn – người từng đỗ Nhị trường trong khoa cử Nho học, nổi tiếng văn hay chữ tốt khắp vùng Hải Hậu. Mãi đến năm Quý Dậu 1873, sau nhiều năm cầu tự, cụ Nhì Văn mới sinh được người con trai đầu lòng là Trần Ngọc Nhưng. Sau này gia đình tiếp tục có thêm các con trai là Trần Ngọc Toản, Trần Ngọc Hướng và người con gái tên Lý Chí.

    Những năm ấy, cuộc sống vô cùng cơ cực. Cụ Nhì Văn phải đi dạy học khắp nơi để kiếm sống, còn ở nhà, cụ bà quán xuyến toàn bộ gia đình. Dù nghèo nhưng hai cụ quyết không để con thất học. Cụ bà từng mời cụ Kép Thạc Hà Quang – một vị thầy nổi tiếng nghiêm khắc – về dạy chữ cho các con. Người xưa kể lại rằng cụ Thạc khó tính đến mức mỗi ngày đều phải có món ăn riêng, vậy mà cụ bà vẫn tận tình chu đáo.

    Khi tình hình xã hội rối ren, nạn trộm cướp nổi lên khắp nơi, ba anh em phải khăn gói lên Hành Thiện trọ học suốt nhiều năm liền. Có thời gian năm năm liên tục không dám về quê. Ở nhà, người mẹ già lặng lẽ hái từng quả sung, quả mận, bó rau ngoài vườn đem bán lấy tiền gửi cho con ăn học. Những đồng tiền ít ỏi được chắt chiu từ mồ hôi và nước mắt của người mẹ nghèo đã nuôi lớn chí học của cả gia đình.

    Năm Giáp Ngọ 1894, anh em Trần Ngọc Nhưng và Trần Ngọc Toản cùng vượt qua kỳ thi Nhất trường, mở ra con đường khoa bảng đầy hy vọng. Nhưng người chạm tới học vị Tú tài trước chính là Trần Ngọc Nhưng. Trong khoa thi tại Nam Định năm Đinh Dậu 1895, ông chính thức đỗ Tú tài khi tuổi đời còn rất trẻ. Danh tiếng cụ Tú Nhưng từ đó vang khắp vùng Hà Lạn, trở thành niềm tự hào lớn của gia đình và quê hương.

    Ba năm sau, vào năm Mậu Tuất 1898, em trai ông là Trần Ngọc Toản mới tiếp tục đỗ Tú tài, nối tiếp truyền thống hiếu học của dòng họ. Hai anh em trở thành niềm ngưỡng mộ của cả vùng quê ven biển khi cùng xuất thân từ một gia đình nghèo nhưng đều thành danh nhờ đèn sách.

    Phía sau thành công ấy là biết bao hy sinh thầm lặng của người phụ nữ mang tên Mai Thị Thâm. Thuở còn trẻ, cụ Tú từng đính hôn với bà Mai Thị Thảo – con gái cụ Hương Ngạc ở Trà Trung – nhưng bà mất trước ngày cưới. Sau này ông nên duyên với bà Mai Thị Thâm. Khi bà về làm dâu, gia đình vẫn còn nghèo khó. Trong khi chồng dùi mài kinh sử và đi dạy học, bà một mình lo toan việc đồng áng, chăn nuôi, vun vén từng bữa ăn giấc ngủ cho cả gia đình.

    Người trong vùng kể rằng cụ bà là mẫu phụ nữ “tay làm hàm nhai” điển hình của miền quê Bắc Bộ. Bà vừa chăm sóc người chồng thường xuyên đau đầu, sợ gió, ra ngoài phải che ô nón, vừa nuôi dạy đàn con đông đúc nên người.

    Hai cụ sinh được chín người con trai, hai người con gái và còn nuôi thêm một người con nuôi như con ruột. Các con gồm: Trần Thị Đỏ, Trần Ngọc Liêu, Trần Ngọc Phan, Trần Ngọc Lữu, Trần Ngọc Quyến, Trần Ngọc Điến, Trần Ngọc Đãng, Trần Thị Nhung, Trần Ngọc Quang, Trần Ngọc Riệm và người con nuôi Trần Ngọc Ngọ. Từ những người con ấy, con cháu họ Trần ngày càng đông đúc, lập nghiệp khắp Hải Hậu, Giao Thủy, Xuân Trường và Nghĩa Hưng.

    Sau khi đỗ đạt, cụ Tú Nhưng cùng em trai đi dạy học tại Lạc Quần, Trà Thượng rồi trở về quê mở lớp. Nhiều học trò của cụ sau này thành danh và giữ những vị trí quan trọng trong làng xã. Với đạo đức và uy tín của mình, cụ được truy tặng chức Hàn Lâm, sau thời cải lương được giữ chức Chánh hội, Tiên chỉ, trưởng họ và trưởng thôn – những vị trí chỉ dành cho người có học vấn và đức độ lớn trong cộng đồng.

    Điều khiến hậu thế kính trọng hơn cả chính là tấm lòng nhân hậu của hai cụ. Năm Ất Dậu 1945, nạn đói khủng khiếp lan khắp miền Bắc, xác người chết đói nằm ven đường. Trong hoàn cảnh ấy, cụ bà Mai Thị Thâm vẫn cố gắng giúp đỡ những gia đình túng thiếu quanh vùng. Nhờ nền nếp gia phong và tinh thần đùm bọc, đại gia đình đã vượt qua cơn đại nạn mà không thiệt hại người nào.

    Khi chiến tranh chống Pháp nổ ra, bom đạn và các cuộc càn quét liên tiếp tràn về vùng quê Hải Hậu. Gia đình nhiều lần phải tản cư nhưng vẫn giữ được nền nếp và gia đạo. Chỉ đau xót nhất là mất đi một người con dâu giữa thời loạn lạc.

    Năm Nhâm Thìn 1952, cụ bà Mai Thị Thâm lâm bệnh. Dù đau yếu nhưng bà không một lời than trách. Đến tối ngày 25 tháng Chạp năm ấy, bà nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 75 tuổi. Sự ra đi của bà để lại niềm tiếc thương vô hạn cho con cháu, bởi bà chính là người đã âm thầm giữ lửa cho cả gia đình suốt gần nửa thế kỷ.

    Biến cố tiếp tục ập đến vào cuối năm 1955 trong thời kỳ cải cách ruộng đất. Cụ Tú Nhưng bị quy thành phần địa chủ, nhà cửa và ruộng đất bị tịch biên, gia đình phải nộp gần một trăm thùng thóc tô. Khi ấy cụ đã già yếu, chỉ còn hai sào ruộng dưỡng lão, các con phải thay nhau gánh vác để đủ số thóc phải nộp. May mắn về sau, nhờ chính sách của Đảng và Chính phủ, gia đình được minh oan và hoàn trả lại tài sản.

    Những năm cuối đời, cụ Tú Nhưng vẫn minh mẫn lạ thường. Vào dịp khánh thành chùa và phủ mẫu năm Đinh Dậu, cụ chống gậy lên lễ chùa rồi đêm ấy nằm mộng thấy đoàn người đông nghịt đến rước mình đi. Phía trước hiện lên một tấm biển đỏ đề dòng chữ:

    “Công danh sự nghiệp nhất hoàn nhân.”

    Tỉnh dậy giữa đêm, cụ liền lấy giấy bút ghi lại giấc mộng như một linh cảm đặc biệt về đoạn cuối cuộc đời mình.

    Đến ngày 28 tháng 10 năm Đinh Dậu, cụ bị ngã bên bể nước rồi sức khỏe yếu dần. Sáng ngày 2 tháng 2 năm Mậu Tuất 1958, cụ gọi toàn thể con cháu đến bên giường, chỉnh tề quần áo rồi thanh thản nhắm mắt ra đi trong vòng tay đại gia đình. Cụ hưởng thọ 86 tuổi.

    Hơn một thế kỷ đã trôi qua, nhưng câu chuyện về cụ Tú Nhưng và cụ Mai Thị Thâm vẫn còn được con cháu họ Trần nhắc nhớ như biểu tượng của ý chí học hành, lòng nhân hậu và đạo nghĩa gia phong. Từ những tháng ngày rau cháo nuôi con học chữ đến khi con cháu sum vầy đông đúc, cuộc đời hai cụ đã trở thành niềm tự hào của cả một dòng họ – nơi truyền thống hiếu học và tình người luôn được gìn giữ qua bao thế hệ.

    VIII.1.1.1
    (1873 -1958)
  • Trần Ngọc Toản

    Mã định danh: VIII.1.2.1
    Đời thứ: VIII
    Giới tính: Nam.

     

          Sinh năm 1875 trong một gia đình Nho học giàu truyền thống hiếu nghĩa, cụ Trần Ngọc Toản — thường được hậu thế kính trọng gọi là cụ Tú Toản  — là người con trai thứ hai của cụ Trần Ngọc Văn (tục gọi Nhì Văn), thuộc đời thứ bảy của Đức Thủy tổ Trần Quốc Thể. Cụ lớn lên vào giai đoạn đất nước chìm trong cảnh biến động cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp đã đặt ách đô hộ lên khắp Bắc Kỳ, xã hội rối ren, dân tình lầm than bởi sưu cao thuế nặng, đói nghèo, trộm cướp và những cuộc bắt cóc trẻ em thường xuyên diễn ra ở vùng nông thôn.

    Giữa thời cuộc đầy bất ổn ấy, gia đình cụ vẫn giữ trọn đạo lý “trọng chữ hơn vàng”, xem sự học là con đường gìn giữ gia phong và nhân cách. Dẫu gia cảnh khó khăn, cụ Nhì Văn vẫn quyết đưa các con rời quê đến trọ học tại làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường — vùng đất nổi tiếng khoa bảng của Nam Định xưa. Nơi đây, ba cha con ngày đêm đèn sách, miệt mài kinh sử với khát vọng đỗ đạt để mở mang gia tộc và giúp ích cho quê hương.

          Khoa thi Tú tài năm 1897 là dấu mốc đầu tiên của gia đình. Khi ấy, cụ Nhì Văn và người con cả Trần Ngọc Nhưng cùng bước vào trường thi. Kết quả, chỉ người anh cả đỗ đạt, được dân làng Hà Lạn long trọng rước về làm Tiên chỉ và thường được gọi kính trọng là cụ Tú Cả. Ba năm sau, đến khoa thi tiếp theo, cha con cụ Nhì Văn và Trần Ngọc Toản tiếp tục khăn gói lều chõng lên đường. Lần này, người đỗ đạt là cụ Trần Ngọc Toản. Dù tuổi cao sức yếu khiến người cha không thành danh trong khoa thi ấy, song niềm tự hào của gia đình vẫn vẹn nguyên khi làng quê lại một lần nữa mở cờ đón rước vị tân khoa trở về. Từ đó, tên tuổi cụ Tú Toản được nhân dân kính trọng như một biểu tượng của tinh thần hiếu học trong dòng họ Trần Hải Phúc đầu thế kỷ XX.

         Không chỉ nổi danh bởi con đường khoa bảng, cụ Tú Toản còn là người giàu lòng hiếu nghĩa, luôn đau đáu hướng về tổ tiên và gia phong dòng tộc. Sinh thời, để tỏ lòng tri ân nguồn cội, cụ đã biên soạn và tiến cúng hai câu đối hiện vẫn còn được treo trang trọng tại từ đường Đại tộc:

    “Bách niên hiếu nghĩa lưu gia phả
    Nhất mạch thi thư phát thế khoa”

    Tạm dịch:

    “Trăm năm hiếu nghĩa lưu truyền gia phả
    Một mạch văn chương mở lối khoa danh”

    Hai câu đối không chỉ là lời răn dạy con cháu đời sau về đạo hiếu và tinh thần học tập, mà còn phản ánh cốt cách thanh cao của một nhà nho chân chính trong buổi giao thời đầy biến động của lịch sử dân tộc.

    Tuy dành trọn tâm sức cho việc đèn sách và nghiên cứu kinh sử, nhưng do thể chất yếu, cụ thường xuyên đau ốm. Cụ mất năm 1921, hưởng dương 47 tuổi, để lại niềm tiếc thương sâu sắc cho gia đình và họ tộc. Kỵ nhật của cụ vào ngày 24 tháng 7 âm lịch hằng năm.

    Phu nhân của cụ là cụ bà Trần Thị Nhẫn, quê thôn Hội Nam, xã Hải Nam, xuất thân trong một gia đình nền nếp. Thân phụ là cụ Nhì Khương. Gia đình cụ bà có năm anh chị em, nhiều người giữ vai trò quan trọng trong làng xã đương thời như Tiên chỉ, Lý trưởng hay Phó lý — cho thấy đây là một gia đình có uy tín và truyền thống nề nếp trong vùng.

    Sau khi cụ Tú Toản qua đời sớm, mọi gánh nặng gia đình đều đặt lên vai cụ bà Trần Thị Nhẫn. Trong cảnh góa bụa, cụ vẫn tần tảo nuôi dạy đàn con nên người, giữ gìn gia phong và tiếp nối truyền thống học hành của tổ tiên. Sự hy sinh thầm lặng ấy trở thành nền móng để các thế hệ con cháu tiếp tục trưởng thành và phát triển. Cụ bà từ trần năm 1952, hưởng thọ 73 tuổi, kỵ ngày 24 tháng 10 âm lịch.

    Hai cụ sinh được tám người con gồm ba trai và năm gái, là gốc rễ của nhiều nhánh hậu duệ hiện nay trong đại tộc họ Trần Hải Phúc. Các con của hai cụ lần lượt xây dựng gia đình, kết nối thông gia với nhiều vùng quê thuộc Hải Hậu, Nghĩa Hưng và các địa phương lân cận Nam Định, góp phần mở rộng và bồi đắp thêm truyền thống hiếu học, đoàn kết và nghĩa tình của dòng họ Trần qua nhiều thế hệ.

    Cụ Bà là Trần Thị Nhẫn quê ở thôn Hội Nam xã Hải Nam. Bố vợ là cụ Nhì Khương. Cụ Bà gia đình có 05 anh chị em, trong đó 02 trai và 03 gái:

    1. Chị cả: Trần Thị Quyết thường gọi là Nhất Quyết
    2. Trần Văn Độ làm tiên chỉ làng nên thường gọi là Chỉ Độ
    3. Trần Văn Tư làm lý trưởng nên gọi là Lý tư
    4. Trần Thị Giảng (ông làm phó lý nên gọi là phó Giảng)

    Cụ ông mất sớm cho nên cụ Bà vất vả nuôi dạy con cháu, học hành xây dựng gia đình. Cụ bà từ trần năm 1952 hưởng thọ 73 tuổi, kỵ ngày 24/10. 

    Hai Cụ sinh ra: 3 trai, 5 gái

    1. Trần Thị Lý            (Vũ Văn Trữ- Hải Xuân- Hải Hậu
    2. Trần Ngọc Ban       (Lê Thị Kiêm- Hải Nam- Hải Hậu)
    3. Trần Thị Quyết      (Nguyễn Văn Nhuyên- Nghĩa Thắng- Nghĩa Hưng- Nam Định)
    4. Trần Ngọc Đỉnh       (Ngô Thị Điều- Hải Phúc)
    5. Trần Thị Chi             (Mai Văn Nhự- Hải Nam- Hải Hậu)
    6. Trần Thị Cúc            (Lê Ngọc Roanh- Hội Khê- Hải Nam)
    7. Trần Thị Tuyết           (Cao Văn Nhuyên- Hải Lộc)
    8. Trần Ngọc Khuê       (Lê Thị Nhiên- Hải Nam)

    VIII.1.2.1
    (1875 -1921)
  • Trần Thị Khoai lớn

    Mã định danh: VIII.1.3.0
    Đời thứ: VIII
    Giới tính: Nữ.

    Chính hồn

    VIII.1.3.0
    (Chưa rõ)